Thú bảy, 25/05/2019 - 4 giờ29 - SA
BĐBP Việt Nam Truyền thống Bản lĩnh chính trị và đặc trưng truyền thống của Bộ đội Biên phòng

Bản lĩnh chính trị và đặc trưng truyền thống của Bộ đội Biên phòng

InEmail

Bản lĩnh chính trị là phần cốt lõi nhất, cơ bản nhất của con người. xây dựng bản lĩnh chính trị là xây dựng cái gốc trên cơ sở đó, mỗi người có thể phát huy mọi năng lực vào việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Như vậy, bản lĩnh chính trị không phải là một phẩm chất đạo đức riêng lẻ mà là tổng hợp biện chứng của nhiều mối quan hệ, nhiều thuộc tính của con người từ phẩm chất, năng lực chính trị, tinh thần, tâm lí, đạo đức, tư cách quân nhân… tạo thành một trạng thái tinh thần chính trị bền vững, ổn định, đảm bảo cho cán bộ, chiến sĩ làm chủ bản thân trong mọi tình huống phức tạp của đời sống chính trị, xã hội, trong đấu tranh cách mạng và đấu tranh chống các thế lực thù địch.

Bản lĩnh đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát, hình thành một chân lí phổ biến với toàn thể dân tộc: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”(1). Bản lĩnh đó cũng đã được Người căn dặn các chiến sĩ quyết tử của Trung đoàn Thủ đô khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp: “Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh”(2); thành lẽ sống đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(3). Những lời căn dặn trên của Hồ Chủ tịch cũng là lẽ sống của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội biên phòng (BĐBP) bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trên khắp giải biên cương của Tổ quốc. Đó cũng là yêu cầu rèn luyện bản lĩnh chính trị của những người cầm súng.

Đối với BĐBP, những người trực tiếp và thường xuyên đối mặt với các thế lực thù địch, Hồ Chủ tịch yêu cầu cán bộ, chiến sĩ phải có một bản lĩnh chính trị thật vững vàng và kiên định. Bản lĩnh đó đòi hỏi phải có một lòng trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng mà hạt nhân cơ bản là “Vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ.” Như vậy, theo Hồ Chủ tịch, bản lĩnh đó trước hết phải được biểu hiện… "Trung thành với Đảng, tận tụy với dân, dũng cảm trước địch, vì nước quên thân”(4). Đó cũng là biểu hiện tập trung của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của BĐBP trong nửa thế kỉ qua mà nổi bật là mấy đặc trưng truyền thống sau đây:

Một là, tận trung với Đảng, kiên quyết sống chết bảo vệ Đảng, còn Đảng thì còn mình.

Nhận thức bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, bảo vệ lãnh tụ là một nhiệm vụ hết sức trọng yếu của lực lượng Công an nhân dân vũ trang, cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng nói chung, của Trung đoàn 600, 180 nói riêng… đã luôn nêu cao lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, sẵn sàng xả thân để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước. Trong bất cứ điều kiện nào, khi ở thành phố, lúc ở căn cứ hoặc nơi sơ tán, khi bảo vệ đột xuất, bảo vệ đường dài, trong chiến tranh phá hoại ác liệt ở miền Bắc hoặc trong vùng căn cứ miền Nam mới giải phóng, các đơn vị đều dũng cảm, mưu trí, hết mực trung thành, cùng các lực lượng bảo vệ khác thực hiện mọi phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn. Các đơn vị còn trực tiếp tham gia bảo vệ an toàn các đại hội Đảng, các ngày lễ lớn, các hội nghị quan trọng, các đoàn khách nước ngoài…

Nói một cách khác, trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi hòa bình cũng như lúc có chiến tranh, dù có gặp khó khăn, gian khổ, ác liệt đến đâu, dù có phải hi sinh đến tính mạng mình, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bảo vệ cũng kiên quyết vượt qua, bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não, các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tiêu biểu cho tinh thần đó là tập thể Trung đoàn 600 anh hùng, Tiểu đoàn 1 anh hùng (thuộc Trung đoàn 180); là các đơn vị an ninh vũ trang anh hùng khu Tây Nam Bộ, khu Trung Trung Bộ, khu Sài Gòn- Gia Định, Phú Yên, Quảng Trị, Quảng Đà, Bến Tre, Sóc Trăng, Cần Thơ; là các đồng chí Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Kim Vang, Trần Thị Tính, các Anh hùng Phạm Văn Vàng, Trần Văn Nhỏ…

Những hình ảnh: Anh hùng Trần Văn Nhỏ suốt hàng chục năm liền làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh tụ, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức cảnh giác kiên trì, bền bỉ khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; Thượng sĩ Phan Văn Trọng (Bình Trị Thiên), trong thời kì chống chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ đã lấy thân mình che cho các đồng chí lãnh đạo ở địa phương khi bom địch rơi bên cạnh. Nữ đồng chí Nguyễn Thị Lài (an ninh vũ trang thành phố Huế), năm lần bị địch bắt, qua 16 phòng tra tấn cực hình, nhiều lần chết đi, sống lại, vẫn lòng son, dạ sắt, kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ, giữ vững cơ sở, đánh không khai, giết không sợ và khi địch buộc phải thả ra thì lại tiếp tục hoạt động; liệt sĩ Nguyễn Thị Lý (trinh sát vũ trang Quảng Trị) bị địch bao vây bốn bề, bị thương nặng nhưng vẫn kiên cường chiến đấu, một lòng trung thành với lí tưởng của Đảng, kiên quyết bảo vệ Đảng đến cùng, khi địch gọi hàng, đồng chí đã vừa bắn, vừa thét to vào mặt kẻ thù: “Người Cộng sản không bao giờ biết khuất phục bỏ súng, chỉ biết chiến đấu đến cùng để bảo vệ cách mạng”.

Hai là, tinh thần bám dân, bám đất, bám địch cùng với quân dân địa phương giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong BĐBP còn biểu hiện ở chỗ luôn gắn bó với đồng bào các dân tộc, bám dân, bám đất, bám địch, đoàn kết với các lực lượng giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm quần chúng của Đảng, nhận rõ trách nhiệm của mình, trong gần 50 năm qua, cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã kiên trì bám đất, bám dân, “một tấc không đi, một li không rời”, gắn bó với đồng bào các dân tộc. Các đơn vị luôn luôn coi trọng công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng cho nhân dân, vận động quần chúng đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Có thể khẳng định rằng: trên các vùng biên giới của Tổ quốc, ở đâu có cuộc sống của dân là ở đó có mặt cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Trong 10 năm đầu triển khai nhiệm vụ, nhiều bản làng hẻo lánh, nhiều vùng dân tộc ít người còn sống trong tình trạng thiếu thốn về nhiều mặt. Cán bộ, chiến sĩ biên phòng, với tinh thần hết lòng vì dân đã kiên trì, nhẫn nại tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, thuyết phục bằng những hành động gắn bó mật thiết với nhân dân. Vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã được nhân dân các dân tộc tin yêu, đùm bọc. Từ đó, tạo nên tình cảm quân dân một lòng xây dựng quê hương, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng lũy thép biên phòng bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ quốc.

Tinh thần đó được biểu hiện rõ nhất khi lực lượng vừa mới thành lập, chưa kịp xây dựng hệ thống đồn, trạm biên phòng, các đơn vị đã phải lao ngay vào cuộc đấu tranh quyết liệt với các loại phản cách mạng để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở vùng biên giới.

Bám sát dân, dựa vào nhân dân, với tinh thần quân với dân là một ý chí, các đơn vị biên phòng Nghệ An, Hà Giang, Lào Cai… đã phối hợp với các lực lượng vũ trang và nhân dân vùng biên giới kịp thời trấn áp các hoạt động phá hoại, gây bạo loạn, xưng vua, đón vua của bọn phản cách mạng, quét, xóa các lực lượng và tổ chức phỉ tập trung đóng ở vùng Kỳ Sơn (Nghệ Tĩnh), Đồng Văn (Hà Tuyên) Mường Khương (Hoàng Liên Sơn)… tiêu diệt bắt sống, gọi trở về gia đình trên 1.700 tên. Các đơn vị biên phòng Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh, Hải Phòng đã tổ chức truy nhanh, bắt gọn 55 toán gián điệp, biệt kích, hơn 300 tên do đế quốc Mĩ và tay sai ở miền Nam tung ra phá hoại miền Bắc, góp phần đập tan âm mưu “Xây dựng căn cứ trong lòng cộng sản” của đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai, để giữ trật tự an ninh miền Bắc.

Với khẩu hiệu “đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, lực lượng đã cử hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ xuống 432 xã biên giới, giới tuyến, bờ biển, hải đảo để tham gia xây dựng cơ sở chính trị, vận động quần chúng đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới. Các đơn vị đã trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng, đề nghị đảng bộ địa phương, kết nạp được 1.427 đảng viên và 6.085 đoàn viên, thanh niên trong các dân tộc ít người; giúp cấp ủy địa phương xây dựng và củng cố 1.438 chi bộ đảng, 1.455 chi đoàn thanh niên, bồi dưỡng bổ sung 2.452 người vào công an, dân quân ở xã; tham gia xây dựng củng cố 1.300 hợp tác xã nông nghiệp; kiên trì vận động định canh, định cư, đưa dân xuống khai hoang, làm ruộng nước, thực hiện kĩ thuật canh tác mới để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, vận động cải tạo phong tục tập quán cũ, xây dựng cuộc sống văn hóa mới(1). Nhờ vậy, chỉ 5 năm sau (1964) toàn tuyến biên phòng (miền Bắc) đã có trên 50% số xã có phong trào bảo vệ trị an khá, trong đó có nhiều xã là lá cờ đầu về phong trào bảo vệ trị an.

Tiêu biểu cho truyền thống đó là các đơn vị biên phòng Lai Châu, Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh, Quảng Ninh đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là Đồn Cù Bai (Vĩnh Linh), trong chống Mĩ cứu nước, đã kiên cường bám trụ ở một địa bàn địch đánh phá rất ác liệt (trên một chiều dài 30 cây số, địch đánh phá 3.139 lần, có 1.600 lần B.52, 16 lần rải chất độc hóa học, bình quân mỗi người chịu 250 quả bom). Đồn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới, góp phần bảo vệ tốt các lực lượng vũ trang, bảo vệ cán bộ, bảo vệ giao thông vận chuyển, phục vụ tiền tuyến lớn. Cán bộ, chiến sĩ của đồn đã dũng cảm mưu trí nắm địch, đánh địch tốt, cùng các lực lượng diệt và bắt sống nhiều toán gián điệp biệt kích, phá gỡ nhiều bãi bom, mìn của địch, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay Mĩ. Có nhiều sáng tạo trong việc tổ chức, hướng dẫn đồng bào các dân tộc bám chắc địa phương sản xuất và chiến đấu xây dựng bản, làng. Trạm Cửa Hội (Nghệ An) trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ trước đây có nhiều sáng kiến cải tiến công tác, vừa bảo đảm kiểm soát được chặt chẽ, vừa bảo vệ được an toàn; dũng cảm cứu hơn 40 đồng bào và hàng trăm tấn hàng đưa đến nơi an toàn; phối hợp bắn rơi 2 máy bay Mĩ; tích cực góp phần xây dựng 3 xã có phong trào bảo vệ  trị an vững mạnh.

Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ, hơn 10 năm ở vùng rẻo cao, đã nêu cao tinh thần kiên trì bám sát dân, bám sát địa bàn, cùng địa phương xây dựng cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, giúp đỡ đồng bào các dân tộc xây dựng hợp tác xã, phát triển sản xuất, cải tạo các tệ nạn xã hội cũ, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hi sinh cả đời mình cho sự nghiệp bảo vệ biên giới. Liệt sĩ Trần Văn Thọ đã để lại trong đồng bào ở đây những tình cảm lưu luyến, thương tiếc và từ xúc cảm của lòng mình, đồng bào đã dựng bia tưởng niệm người anh hùng đã khuất. Anh hùng Trương Chí Cương đã nêu cao tinh thần không sợ hi sinh gian khổ, vượt qua nhiều khó khăn nguy hiểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện gay go quyết liệt nhất, len lỏi vào tận hang ổ của địch để bắt địch, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Anh hùng Phạm Bá Hạt đã nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, linh hoạt trong chiến đấu, chỉ huy tiểu đội bắn rơi 3 máy bay Mĩ cả ban ngày lẫn ban đêm. Đồng chí đã cùng đồng đội tập trung bắn vào máy bay địch để thu hút hỏa lực của chúng về phía mình, tạo điều kiện cho nhân dân đang cày cấy ngoài đồng kịp thời ẩn nấp, bảo vệ được tính mạng của nhân dân.

Đó là gương chiến đấu quên mình vì nhân dân của Trung sĩ Nguyễn Quốc Cơ, giữa lúc máy bay địch oanh tạc dữ dội, đã dũng cảm lượm từng quả bom bi sắp nổ rơi xuống hầm ném đi nơi khác để bảo vệ tính mạng cho nhân dân; Thượng sĩ Trần Văn Thạo (Vĩnh Linh) dũng cảm xông vào nhà đang cháy, bom địch đang nổ, cứu được 20 người, trong đó có 5 em nhỏ; Trung sĩ Khoàng Chống Xá (dân tộc Hà Nhì- Lai Châu) không quản nguy hiểm, lao mình xuống suối lũ, cứu được 5 phụ nữ và 1 em nhỏ đang bị nước cuốn trôi; Trung sĩ Trần Minh Dệt, Thượng sĩ Phan Đình Hồng (Nghệ An) ngày đêm liên tục phá bom nổ chậm, bom từ trường để giải phóng cửa sông, cửa lạch cho thuyền bè và nhân dân qua lại an toàn; Hạ sĩ Trần Văn Tẹ (Thanh Hóa) tình nguyện bơi ra tàu vận tải của ta bị máy bay địch bắn cháy đế cứu vũ khí và sau đó cùng đồng đội dập tắt lửa cứu được hơn 60 tấn hàng của Nhà nước; Binh nhất Nguyễn Văn Khanh (Trạm Cửa Ông- Quảng Ninh) đã anh dũng đứng trên đầu cảng bắn máy bay Mĩ, nhường hầm cho công nhân và thủy thủ nước ngoài, đã làm cho họ cảm phục và kính trọng. Những hành động đó đã hun đúc thêm tình yêu thương gắn bó giữa nhân dân và BĐBP, nhất là trong thời kì chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đối với miền Bắc nước ta. 

Hiện nay, để củng cố “thế trận lòng dân vững chắc”, các đồn biên phòng đã cử 438 sĩ quan tăng cường cho hơn 400 xã biên giới đặc biệt khó khăn, làm tham mưu cho địa phương kiện toàn hàng nghìn tổ chức cơ sở đảng, ủy ban nhân dân, tổ chức mặt trận, công an, dân quân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ và hội cựu chiến binh… Triển khai thực hiện 124 dự án kinh tế- xã hội với gần 800 tỉ đồng; tổ chức định canh định cư bền vững cho hàng ngàn hộ dân làm ruộng nước, đổi mới cây trồng, chăn nuôi tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở vùng biên giới. Thực hiện chương trình đưa văn hóa lên vùng cao biên giới, hải đảo, các đồn biên phòng đã cử hơn 2.000 chiến sĩ làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Riêng từ năm 1989 đến nay, xóa hơn 200 thôn bản trắng về giáo dục, thực hiện hàng ngàn ngày công xây dựng trường lớp, hàng tỉ đồng mua tặng bàn ghế, đồ dùng học tập cho các nhà trường và các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn(1).

Những việc làm cụ thể đó đã thực sực chiếm được tình cảm, sự tin yêu và quí mến của các dân tộc, như Bác Hồ đã dạy: “Việc gì có lợi cho dân, ta hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu ta”(1)

Ba là, tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm, ngoan cường trong chống Mĩ, cứu nước, truy quét quân địch khi miền Nam vừa giải phóng, đánh bại 2 cuộc chiến tranh xâm lược từ phía Tây Nam và phía Bắc.

Trên tư thế của người chiến thắng, với tinh thần cách mạng tiến công “tìm địch mà đánh, gặp địch là diệt”, nhiều đơn vị, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã nêu những gương dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt trong chiến đấu và bền bỉ, tận tụy trong công tác.

Trong những năm đầu triển khai lực lượng, tiểu đội Mại Xuân Hùng đã anh dũng chiến đấu liên tục 12 ngày đêm liền với bọn phỉ đông hơn gấp 20 lần, kiên quyết chặn địch để bảo vệ chính quyền và tài sản của nhân dân, chờ đơn vị bạn tới phối hợp tiêu diệt chúng.

Trong quá trình công tác và chiến đấu, nhất là trong thời kì chống Mĩ cứu nước, nhiều đơn vị, cán bộ và chiến sĩ đã lập được nhiều thành tích xuất sắc. Phân đội 319 (Vĩnh Linh) trong nhiều trận ác liệt, cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu rất dũng cảm, tiêu diệt địch đến cùng, mặc dù có lúc chúng đông gấp 10 lần. Đồn Hiền Lương(Vĩnh Linh) với quyết tâm “còn một chiến sĩ thì cờ Tổ quốc vẫn tung bay”, mặc dầu địch dùng máy bay, tàu chiến bắn phá ác liệt thường xuyên vào khu vực này, cán bộ, chiến sĩ ở đây vẫn kiên định, giữ vững vị trí chiến đấu, bảo vệ lá cờ Tổ quốc tung bay trên giới tuyến quân sự tạm thời. Đồn Cửa Tùng (Vĩnh Linh) hàng ngày, hàng giờ đấu tranh trực diện với kẻ thù. Tuy đây là nơi cuộc chiến đấu xảy ra ác liệt nhất nhưng đồn vẫn vững vàng bám đất, bám dân, bám địa bàn, xây dựng cơ sở quần chúng, tiến hành tốt công tác bảo vệ an ninh ở khu vực phụ trách, kiên cường đánh trả địch những đòn đích đáng hạ 5 máy bay Mĩ và góp phần đánh chìm 3 tàu biệt kích Mĩ- ngụy. Nhiều đồng chí đã vượt qua bom đạn, cứu tính mệnh, tài sản cho nhân dân, hết lòng hết sức giúp đỡ đồng bào miền  Nam sang lánh nạn, được nhân dân hai bên giới tuyến yêu thương quí mến.

Các đơn vị trên đã nêu cao tinh thần chiến đấu ngoan cường, tinh thần dũng cảm thầm lặng của người chiến sĩ biên phòng, như đồng chí Tố Hữu đã khẳng định: “Giữa cái dũng cảm phải đứng đó hằng mấy năm trời để chứng kiến cái đau khổ của gia đình, quê hương mình với cái dũng cảm xông lên đánh vào đầu quân địch thì có lẽ cái dũng cảm thầm lặng kia còn khó khăn hơn nhiều”.

Đồn Ròn (Quảng Bình) là ngọn cờ đầu của phong trào dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực Mĩ trên đất Quảng Bình cả ban ngày lẫn ban đêm, kết hợp chặt chẽ công tác đánh địch ở mặt đất và đánh địch trên không, tiêu diệt gọn các toán gián điệp, biệt kích, xây dựng phòng tuyến nhân dân vững chắc, giữ vững được trật tự an ninh ở khu vực phụ trách.

Đáng chú ý nhất khi đế quốc Mĩ leo thang mở chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, các đơn vị biên phòng đã dũng cảm, mưu trí chủ động dùng súng bộ binh bắn rơi 195 máy bay phản lực hiện đại của đế quốc Mĩ và phối hợp với các lực lượng vũ trang khác bắn cháy hàng trăm chiếc khác. 5 đơn vị biên phòng Quảng Bình, Vĩnh Linh, Đại đội I (Quảng Bình), Đại đội I, Đồn 93 (Hà Tĩnh) lập nhiều chiến công xuất sắc, được Hồ Chủ tịch tặng cờ “Quyết tâm đánh giặc Mĩ xâm lược”

Khi đế quốc Mĩ thực hiện âm mưu phong tỏa miền Bắc, nhiều đơn vị đã dũng cảm đi đầu trong khâu tháo gỡ bom mìn, thủy lôi, mở đường, mở luồng, thông lạch, nhanh chóng đưa hàng chục vạn tấn hàng ra tiền tuyến. Nhiều đơn vị còn xông vào lửa đạn, vào các căn hầm bị sập cứu sống 1.800 người dân, và nhiều tài sản của Nhà nước và của nhân dân.

Ở miền Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước, nhiều đơn vị đã nêu gương kiên trì bám dân, diệt ác phá kìm, kiên cường đấu tranh chống bình định của địch, bảo vệ cán bộ và cơ quan lãnh đạo, bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ nhân dân vùng giải phóng, tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, tham gia các cuộc tiến công nổi dậy, cùng quân và dân cả nước đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược. Tiêu biểu cho tinh thần đó là anh hùng Kiều Văn Niết, trong đánh Mĩ đã tự mình chặt đứt cánh tay bị thương, xông lên tiêu diệt địch. Nữ đồng chí Nguyễn Trường Chi, trinh sát vũ trang Bến Tre, đã gài mìn để đánh địch, bảo vệ dân. Mìn nổ, đồng chí đã hi sinh nhưng bảo vệ được nhân dân an toàn, gây một sự xúc động mạnh mẽ trong nhân dân

Từ sau đại thắng mùa xuân 1975, nhiều đơn vị đã nêu cao tinh thần yêu nước, dũng cảm kiên cường truy quét bọn tàn quân ngụy, bọn Fulro và các bọn phản động khác, cùng với quân và dân địa phương giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội ở vùng biên giới mới giải phóng. Cùng với các lực lượng khác, các đơn vị biên phòng làm nhiệm vụ trên tuyến biên giới Tây Nam của Tổ quốc đã liên tục chiến đấu để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Có những đồn như Đồn Xa Mát anh hùng, suốt thời gian 400 ngày đêm chiến đấu liên tục với lực lượng địch đông gấp bội. Hàng năm trời liên tục đơn vị phải sống dưới hầm hào, nắng nóng, mưa ướt, muỗi đốt… nhưng đơn vị vẫn kiên cường bám trụ, đầy khí phách anh hùng và tinh thần lạc quan cách mạng, cuối cùng đã chiến thắng vẻ vang. Các đồn biên phòngPhước Tân (Tây Ninh), Bu Prăng (Đắc Lắc), Phú Mỹ (Kiên Giang), Cầu Ván (Đồng Tháp), 649 (Gia Lai- Công Tum), là những tập thể anh hùng tiêu biểu cho truyền thống chiến đấu rất kiên cường dũng cảm của BĐBP ở biên giới phía Tây Nam.

Đặc biệt, trên tuyến biên giới phía Bắc, các đồn biên phòng đã cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang tại chỗ đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược biên giới (2/1979), chặn đánh quyết liệt nhiều sư đoàn, quân đoàn của đối phương, tạo được thời cơ cho các lực lượng ở phía sau triển khai chiến đấu. Đồn Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn)- đơn vị được tuyên dương Anh hùng lần thứ hai, đã dũng cảm chặn bước tiến của một sư đoàn địch có pháo binh và xe tăng yểm trợ, tiêu diệt 400 tên, bắn cháy xe tăng địch, bảo vệ cho hơn 200 đồng bào khỏi sa vào tay giặc; Đồn Pò Hèn (Quảng Ninh) đã kiên cường chiến đấu đẩy lùi hàng chục đợt tấn công của hơn 2.000 quân địch có pháo yểm trợ. Tại đây, địch cậy thế đông gấp bội, kêu gọi các chiến sĩ ta đầu hàng, anh em ta quát ngay “Người Việt Nam không biết khuất phục, chúng mày sẽ chết”; tiếp đó 20 cán bộ, chiến sĩ còn lại xông lên dùng lưỡi lê, báng súng đánh giáp lá cà giành giật với địch từng đoạn chiến hào.

Đại đội II, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 16 ngay từ sáng 17/2/1979 đã chặn đánh quyết liệt đoàn xe tăng của địch hùng hổ chạy trên đường số 4, diệt 8 chiếc xe, bắn bị thương 4 chiếc, buộc số xe tăng còn lại phải tháo chạy về bên kia biên giới. Nổi bật nhất là Đoàn Thanh Xuyên anh hùng, suốt một tháng trời chiến đấu liên tục đã nêu cao khí phách anh hùng, đánh 23 trận, diệt 2.255 tên, bắn cháy 6 xe tăng, thu nhiều vũ khí đạn dược, cứu được hàng trăm dân bị địch bao vây trong hang đá, đánh đuổi địch, bảo vệ được một kho 150 tấn lương thực, cấp cứu và nuôi dưỡng thương binh của các đơn vị bạn.

Vừa chiến đấu góp phần chặn bước tiến của quân thù ở tuyến đầu, các đơn vị BĐBP vừa tổ chức lực lượng về phía sau nắm tình hình bọn phản động, diệt và bắt hàng trăm tên địch tiếp tay cho kẻ thù gây tội ác, định nhen nhóm tổ chức gây bạo loạn, góp phần phá tan âm mưu nham hiểm của kẻ thù. Noi gương “Sống, chiến đấu rực lửa anh hùng” của Anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược bảo vệ Tổ quốc vừa qua, trong các đơn vị biên phòng đã xuất hiện nhiều tấm gương chói lọi mà tiêu biểu là các tập thể anh hùng như Đồn Pò Mã (Lạng Sơn), Đồn Tà Lùng, Sóc Giang (Cao Bằng), Đồn Pha Long (Hoàng Liên Sơn), Đồn Si Lờ Lầu, Ma Lù Thàng (Lai Châu)… các Anh hùng liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa, Lộc Viễn Tài, Đỗ Chu Bỉ, Nông Văn Giáp… các đồng chí anh hùng Nguyễn Công Thuận, Hoàng Văn Khoáy, Lê Khắc Xuân, Lừu A Phừ, Tao Văn Tem, Tống Văn Kim, Nông Văn Phiao… đã nêu những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời kì đổi mới.

Những hình ảnh Đồn phó Đỗ Sĩ Họa, Đồn Pò Hèn (Quảng Ninh) bị thương 2 lần vẫn đi sát từng tổ chỉ huy và chiến đấu đánh giáp lá cà tiêu diệt địch; Thượng sĩ Hoàng Tiến Cờ (Đồn Pò Hèn) đã dùng vũ thuật vật lộn với địch ngay tại chiến hào và lấy súng diệt địch; Binh nhì Bùi Mạnh Hùng, Đồn Lũng Làn (Hà Tuyên) chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hết đạn dùng lưỡi lê đâm chết một tên khác, ôm đồng đội bị thương lăn xuống dốc để thoát khỏi tay giặc, khi bị thương tự rạch đùi lấy đạn ra để dễ dàng đi lại tiếp tục chiến đấu; liệt sĩ Nguyễn Đình Thuần, Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 (Đoàn Thanh Xuyên), Võ Đại Huệ, Đại đội trưởng Đại đội II, Tiểu đoàn 3 (e.16) bị thương nhiều lần vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch, là những hình ảnh đẹp nhất trong muôn vàn hình ảnh chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ biên phòng trong việc đánh trả bọn xâm lược, bảo vệ biên giới của Tổ quốc.

altTừ sau khi giải phóng miền Nam 1975 thống nhất đất nước, BĐBP đã triển khai đồn, trạm ở các tỉnh biên giới phía Nam (143 đồn, 23 trạm biên phòng); đã kịp thời phát hiện 1.400 vụ xâm nhập biên giới, bắt giữ 500 vụ (trong đó có 9 toán gián điệp biệt kích do CIA tổ chức xâm nhập qua biên giới phía Nam, gần 300 tên phản động lưu vong xâm nhập biên giới phía Bắc…), phát hiện gần 2.000 đối tượng cài cắm, móc nối xây dựng cơ sở ngầm, triệt phá 70 vụ nhen nhóm tổ chức phản động lợi dụng dân tộc, tôn giáo hoạt động chống phá cách mạng, trên 21.000 cuộc truy quét Fulro, diệt gần 500 tên, bắt 2.575 vụ trốn ra nước ngoài, cùng quân, dân địa phương bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia(1).

Bốn là, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong nhiệm vụ giúp bạn.

Các đơn vị được cử sang giúp cách mạng Lào và cách mạng Campuchia đã luôn luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, kiên trì bám đất, bám dân, giúp bạn xây dựng lực lượng nghiệp vụ, diệt phỉ, biệt kích, củng cố và bảo vệ vùng giải phóng.Các đơn vị giúp cách mạng Lào đã trực tiếp chiến đấu và truy quét hàng trăm trận, gọi về với nhân dân 315 tên, thu 734 súng các loại và nhiều tài kiệu quan trọng. Giúp bạn phát hiện 107 trường hợp kẻ địch chui vào nội bộ, lập 651 hồ sơ đối tượng cải tạo, xác minh nhanh và làm rõ 1.435 vụ hoạt động chính trị, các đơn vị cũng đã làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy địa phương xây dựng phong trào bảo vệ an ninh ở 54 xã biên phòng, trong đó có 27 xã có phong trào khá. Phát hiện giới thiệu 2.949 người tốt để cấp ủy, chính quyền bạn đưa vào làm cán bộ công an và cán bộ các ngành; huấn luyện nghiệp vụ cho 733 cán bộ xã, bản và 7.526 dân quân; phát hiện bồi dưỡng để bạn kết nạp vào Đảng 612 đảng viên(2).

Với tư tưởng “Giúp bạn là tự giúp mình”, chỉ riêng trong những năm 1965- 1975, công an vũ trang đã tổ chức nhiều đơn vị với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ sát cánh với các đơn vị vũ trang cách mạng Lào bảo vệ an toàn vùng giải phóng. Đã tổ chức 96 tổ trinh sát gồm 215 trinh sát viên, 130 đội công tác cơ sở với 830 lượt cán bộ, chiến sĩ thường xuyên hoạt động trên đất bạn. Bằng biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với bạn, phát hiện hàng chục tổ chức nhen nhóm phản động, hàng chục đường dây gián điệp, biệt kích xâm nhập qua biên giới, tiến hành 1.614 cuộc lùng sục truy quét, đánh 92 trận, tiêu diệt và bắt 407 tên, gọi hàng 530 tên, thu nhiều vũ khí. Nhiều tập thể và cá nhân được bạn đánh giá cao như Phân đội 56-Nghệ An đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các anh hùng Võ Hồng Tuyên, Trần Văn Trí, Nguyễn Đình Thử(1).

Các đơn vị giúp bạn Campuchia đã nhanh chóng cùng bạn nắm tình hình, tìm bắt liên lạc và thống nhất với các lực lượng cách mạng nổi dậy, tổ chức vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng, phối hợp và góp phần với các lực lượng vũ trang nhân dân tiến công tiêu diệt quân Pônpốt- Iêngxari, giải phóng đất nước Campuchia. Qua gần một năm giúp bạn (tính đến cuối tháng giêng năm 1980), các đơn vị đã đánh 513 trận, diệt 1.203 tên, bắt 2.713 tên, bắn bị thương 403 tên, giúp bạn bắt 2.565 đối tượng các loại, thu 688 súng và nhiều quân cụ, phương tiện khác. Các đơn vị đã phát huy truyền thống và bản chất Bộ đội Cụ Hồ, hết sức coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng nhân dân, tuyên truyền giáo dục trực tiếp cho 50.662 lượt người về đường lối, chính sách (theo tài liệu của bạn), tham gia giúp đỡ bạn tổ chức chấn chỉnh nhiều tổ chức cơ sở ở xã, tham gia, huấn luyện và xây dựng 869 dân quân du kích, giúp đỡ nhân dân sản xuất; bớt ăn giúp đỡ 88 tấn gạo cho 57.739 người dân nước bạn(2).

Nhìn chung lại, từ ngày đầu thành lập lực lượng cho đến nay, cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Trong quan hệ biên giới, các đồn biên phòng luôn giữ đúng nguyên tắc kiên quyết đấu tranh với các hoạt động xâm phạm chủ quyền, vi phạm qui chế biên giới với phương thức mềm dẻo, khôn khéo thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng và bạn bè quốc tế. Trong quan hệ tiếp xúc đối ngoại, luôn thể hiện thái độ, tác phong làm việc lịch sự, văn minh, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế.

Các đặc trưng trên là một thể thống nhất, có tác động lẫn nhau, là điều kiện và tiền đề của nhau, gắn chặt với việc rèn luyện bản lĩnh chính trị mà cốt lõi là lòng “Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân” theo yêu cầu tư tưởng Hồ Chí Minh.

Với thành tích và chiến công trên, BĐBP đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”; tặng huân chương Sao vàng, 2 huân chương Hồ Chí Minh…; 135 đơn vị, 62 cá nhân được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, (trong đó có 5 tập thể được tuyên dương lần thứ 2; 32 tập thể và 10 cá nhân được tuyên dương trong thời kì đổi mới).

Tại lễ kỉ niệm 20 năm ngày thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh, thay mặt Đảng và Nhà nước đã khẳng định trong lời tuyên dương: Công an nhân dân vũ trang từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ chiến đấu, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, đã nêu cao tinh thần “tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”; sẵn sàng hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc; kiên cường vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, chiến đấu dũng cảm mưu trí, đấu tranh bền bỉ sắc bén, công tác tận tụy sáng tạo, nội bộ đoàn kết nhất trí, hiệp đồng chặt chẽ với các ngành và các lực lượng vũ trang nhân dân khác, gắn bó với đồng bào các dân tộc, nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, quyết đánh thắng mọi kẻ thù, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ… Tập trung nhất là gần đây, Bộ Chính trị, trong Nghị quyết về “xây dựng BĐBP trong tình hình mới” (Nghị quyết số 11/NQ-TW 08/8/1995) đã đánh giá: “Từ ngày thành lập đến nay, BĐBP đã trải qua một quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đã phấn đấu khắc phục nhiều khó khăn, chịu đựng nhiều hi sinh, gian khổ, chấp hành tốt nhiệm vụ quản lí, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia, làm nòng cốt giữ gìn an ninh trật tự ở các vùng biên giới trên đất liền và biển đảo, tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị và thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội, góp phần đoàn kết các đồng bào dân tộc, củng cố vùng biên giới của Tổ quốc ngày càng vững mạnh.”

Bản lĩnh chính trị và truyền thống anh hùng của BĐBP không phải ngẫu nhiên mà có. Đó là một quá trình giáo dục rèn luyện công phu của Đảng và Bác Hồ; là một quá trình đùm bọc, chăm sóc của đồng bào các dân tộc trong cả nước. Đó là một sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản kết hợp với những truyền thống lâu đời của dân tộc, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt  Nam anh hùng.

Đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng kết hợp chặt chẽ giữa con người với Tổ quốc, giữa cá nhân và tập thể, giữa cá nhân với quần chúng là một, tạo nên những hành động anh hùng tập thể, những tập thể kiên cường bám trụ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lãnh thổ, những con người chỉ biết chiến đấu vì sự sống còn của dân tộc.

Trong thời kì toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, yêu cầu xây dựng bản lĩnh chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết. “Lòng trung thành với Đảng, tận tụy với dân, dũng cảm trước địch, vì nước quên thân” phải được biểu hiện cụ thể đối với mọi người trong mọi nơi.

Theo Hồ Chí Minh, để giữ vững bản lĩnh chính trị, không ngừng phát huy truyền  thống BĐBP với những đặc trưng cơ bản của nó, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ BĐBP phải vững vàng kiên định trước mọi thử thách:

“Giàu sang không thể quyến rũ

 Nghèo khó không thể chuyển lay

 Uy lực không thể khuất phục”(1)

Đáng chú ý nhất là trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kì Việt Nam đã gia nhập WTO, làm bạn với tất cả các nước, kinh tế hàng hóa phát triển đa dạng với tính muôn màu, muôn vẻ. Bên cạnh mặt tích cực là tiếp cận được với khoa học và kĩ thuật tiên tiến, giao lưu, tạo được vốn và kĩ thuật cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cũng có nguy cơ các thế lực phản động trong và ngoài nước đang tìm mọi cách xâm nhập, móc nối chống phá cách mạng Việt Nam.

Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ BĐBP trên các tuyến biên giới của Tổ quốc, nhất là ở các đồn trạm, cửa khẩu biên giới, tiếp cận thường xuyên với nhiều loại người (nhất là thương gia và con buôn) với nhiều mặt hàng hóa, đừng để đồng tiền mua chuộc, làm những điều phi pháp, trái nguyên tắc, trái pháp luật, làm mất bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, chiến sĩ biên phòng mà Đảng tin cậy giao cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, người lính tiền tuyến gác cửa của Tổ quốc trong thời kì toàn cầu hóa kinh tế.

Tóm lại, rèn luyện bản lĩnh chính trị theo yêu cầu tư tưởng Hồ Chí Minh và phát huy đặc trưng truyền thống BĐBP trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và Việt Nam gia nhập WTO là vấn đề cốt lõi và bức xúc, có tác dụng quyết định đối với việc nâng cao sức chiến đấu của BĐBP trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình để xứng đáng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lí, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Cao Thượng Lương

Bình luận

Security code
Hình khác

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Một số thành phố
Nguồn: Trung tâm KTTVTW

Hà Nội Trời chuyển lạnh (17-29 độ)
Huế Mây thay đổi, ngày đêm có mưa (25-33độ)
Đà Nẵng Nắng nắng có mưa nhỏ (24-36độ)
TPHCM Mây thay đổi, đêm có mưa dào (23-33độ)
GIÁ VÀNG
Cập nhật 08 giờ hàng ngày
Nguồn: Sacombank-SBJ
    Mua vào   Bán ra
SBJ
36,620 36,850
SJC
36,650 36,660