Thú bảy, 25/05/2019 - 3 giờ51 - SA
BĐBP Việt Nam Truyền thống Bộ đội Biên phòng 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành

Bộ đội Biên phòng 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành

InEmail

Nhân Kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng, Ban Biên tập Webiste giới thiệu bài viết “Bộ đội Biên phòng 50 năm xây dựng và trưởng thành”.

Lãnh thổ quốc gia Việt Nam được hình thành và tồn tại suốt hàng nghìn năm lịch sử cùng với các quốc gia trên thế giới, trong khu vực và các nước láng giềng. Với vị trí đặc biệt quan trọng của lãnh thổ, biên giới quốc gia từ xưa đến nay các nước luôn đặt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu và thực hiện các giải pháp rất nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các hoạt động xâm hại của các thế lực ngoại xâm.

Trải qua hơn 4 ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải chiến đấu trường kỳ đánh giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Các thế hệ người Việt Nam đã phải chịu đựng nhiều hy sinh, vượt qua mọi thử thách hiểm nguy để bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững biên cương của Tổ quốc.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, ông cha chúng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa đặc biệt quan trọng có tính sống còn của dân tộc trong chiến lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, nhà nước luôn xác định trách nhiệm bảo vệ biên giới là của nhà nước, của toàn dân.
Vua Lê Thái Tổ  đã truyền lại kinh nghiệm cho các đời sau:
                                     “ Biên phòng hảo vị trù phương lược
                                       Xã tắc ưng tu kế cửu an”.
Lê Thánh Tông đã tỏ thái độ rất kiên quyết trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia: “Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc sông của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.
Thấm nhuần tư tưởng minh triết phương Đông : “Quốc dĩ dân vi bản”- dân là gốc của nước (Kinh Thư), nên ông cha ta luôn coi trọng vai trò chiến lược của nhân dân các dân tộc ở biên giới, lực lượng to lớn nhất “đứng mũi chịu sào” bảo vệ biên cương của đất nước.
Với điều kiện nước nghèo, không thể đủ “thú binh” rải khắp mấy nghìn dặm đất “đồn trú” để ngày đêm canh giữ biên thuỳ; với địa hình biên giới hiểm trở, biển- đảo ngăn cách không thể cơ động binh mã, lương thảo kịp thời để bảo vệ bờ cõi khi có biên sự, ông cha ta đã thực hiện biện pháp sử dụng lực lượng nhân dân tại chỗ, lương thảo tại chỗ, vũ khí tại chỗ, hình thành thế trận tại chỗ lợi hại để đánh trả quân xâm lược và bảo vệ biên giới. Nhà nước coi mỗi người dân biên giới như một người lính biên thuỳ, huy động và phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ biên giới.
Cùng với việc chú trọng xây dựng lực lượng đồn trú của nhà nước để giữ gìn bờ cõi, ông cha ta còn luôn chú tâm phát triển kinh tế, khuyến khích cư dân ra biên giới lập dinh điền, đồn điền, khai phá nhiều ruộng đất làm cho “quân thừa lương, dân thừa thóc”, phát triển được nhiều thôn ấp ở biên giới, thể hiện kế sách “tịch thổ tráng biên”- mở rộng đất đai làm mạnh biên giới, “tĩnh vi nông, động vi binh”, phát triển sản xuất, ổn định xã hội, tăng cường lực lượng tại chỗ bảo vệ biên giới. Các vua sáng tôi hiền rất tâm đắc với việc an dân, thực hiện “chính sách biên viễn”, cố kết các dòng họ, vỗ về người xa, “phủ dụ nâng niu vùng biên thùy” để cư dân ở biên giới luôn gắn bó với biên cương; tranh thủ các thổ tù, châu mục, những người thuộc tầng lớp trên; ban chức tước, cấp ruộng đất; dùng hôn nhân để kết thân các bộ lạc ở biên giới gắn bó chặt chẽ với triều đình khi có lấn chiếm biên giới lực lượng tại chỗ phải trực tiếp ngăn chặn. Triều đình ban hành nhiều điều luật quy định rõ trách nhiệm coi giữ biên giới của các quan “trấn thủ”, trong Bộ Luật Hồng Đức thế kỷ XV và Luật Gia Long thế kỷ XIX có nhiều hình thức xử phạt rất nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm, nhất là để cho ngoại bang lấn chiếm bờ cõi, các nhà nước phong kiến cũng luôn chú trọng xây dựng mối quan hệ bang giao hoà hiếu, kết hợp đàm phán, tranh biện ngoại giao kiên quyết đòi lại những vùng đất bị ngoại bang tranh lấn, đồng thời bằng mọi giá quyết giữ những giá trị tinh hoa văn hoá tinh thần mang đậm truyền thống của dân tộc. Lịch sử đã khẳng định người Việt
Nam
không bao giờ chấp nhận sự đồng hoá ngoại bang, không chịu mất nước. Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân ta vẫn không từ bỏ phong tục tập quán, nền văn hoá tốt đẹp truyền thống lâu đời của dân tộc. Nhà Lê đã đặt điều cấm kỵ không được bắt chước nước ngoài mà làm loạn thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
Vua Nguyễn Huệ đã khẳng định quyết tâm bảo vệ truyền thống văn hoá, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc ta: “đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng”.
Với tư tưởng bảo vệ độc lập dân tộc hết sức sâu sắc, các triều đình phong kiến Việt Nam luôn tôn trọng giữ gìn phong tục tập quán của các dân tộc ở biên giới; đồng thời khuyên dụ “giáo hoá” các  dân tộc thiểu số ở biên giới từ bỏ “thói man di”, tiếp thu văn hoá văn minh của dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam nhằm thống nhất văn hoá (thư đồng văn, xa đồng quỹ, hạnh đồng luân) và giữ gìn phát triển nền văn hoá “nghìn năm văn hiến” của Việt Nam.
Nhận rõ vai trò đặc biệt quan trọng của biên giới, các nhà nước phong kiến luôn chọn cử những tướng tài, thông thạo việc biên phòng, am hiểu phong tục các dân tộc nơi “trấn nhậm” ở biên giới để phủ dụ, vỗ về cư dân, sửa đổi phong tục xấu nhằm “cái gốc để trị dân, thuật để yên dân” và làm cho cư dân ở biên giới hiểu rằng: họ đều là công dân của một quốc gia Việt Nam thống nhất và phải có sứ mệnh bảo vệ “cương vực”, “vùng phên dậu” của đất nước. Nhà nước còn ban hành các nghi thức thờ cúng thần kỳ cho các đình, chùa, đền, miếu vừa đáp ứng nhu cầu về tâm linh của nhân dân, vừa để lại cơ sở dấu tích để khẳng định chủ quyền của Việt Nam theo thuyết “Biên giới về văn hoá”. Hiện nay, các bia Thuỷ môn đình thời Lê thế kỷ XVII ở Lạng Sơn, các thẻ bài ở quần đảo Trường Sa ngoài biển Đông xa xôi từ thế kỷ XIX đã là những chứng cứ văn hoá- lịch sử khẳng định người Việt Nam đã từng ở và làm chủ các đảo, quần đảo, các vùng đất xa xôi và những chứng lý đó đã góp phần quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền của đất nước trong thời hiện tại. Những cố gắng không mệt mỏi, nỗ lực phi thường của các thế hệ người Việt Nam trong bảo vệ biên cương đất nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý giá làm cơ sở để xây dựng chiến lược công tác biên phòng trong thời hiện đại.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Đảng đã lãnh đạo toàn dân ta đánh đuổi đế quốc, thực dân giành lại non sông đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với tầm chiến lược nhìn xa trông rộng, Chủ tịc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của đất nước”. Ngay sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954, Đảng và Nhà nước đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị quân đội, công an triển khai tổ chức bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa. Các đơn vị đã nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời phát hiện âm mưu phá hoại của địch, kiên cường, dũng cảm chiến đấu kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, động viên nhân dân miền Nam đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, để quân đội có điều kiện tập trung xây dựng lực lượng chuẩn bị cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (Khoá II) và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Quân uỷ Trung ương, Đảng đoàn Bộ Công an nghiên cứu xây dựng đề án thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa trên cơ sở sáp nhập, thống nhất các đơn vị quân đội, công an đang làm nhiệm vụ trên biên giới và ở nội địa. Sau khi xem xét đề án và đề nghị của Quân uỷ Trung ương, Đảng đoàn Bộ Công an, ngày 19-11-1958 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 58/NQ-TW và ngày 03-03-1959, Chính phủ ra Nghị định số 100/TTg Quyết định thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang  trên cơ sở “Thống nhất các đơn vị bộ đội đang làm nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị công an biên phòng, cảnh sát vũ trang”.
Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị đã xác định lực lượng Công an nhân dân vũ trang là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, Nhà nước làm nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giới tuyến quân sự tạm thời và vũ trang trực tiếp bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở nội địa. Nghị định số 100/TTg của Chính phủ cũng xác định nhiệm vụ cụ thể của lực lượng Công an nhân dân vũ trang là: “Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn các cơ sở kinh tế, văn hoá quan trọng…”. Nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao cho lực lượng Công an nhân dân vũ trang thể hiện rõ 3 tính chất: quốc phòng, an ninh và đối ngoại và đó cũng là đặc điểm riêng biệt của Công an nhân dân vũ trang nay là Bộ đội biên phòng như Bác Hồ đã nhận xét: “Thành lập được lực lượng Công an nhân dân vũ trang là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an”.
Trong quá trình thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Bác Hồ đã có sự quan tâm đặc biệt, thường xuyên chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và trực tiếp nghiên cứu xem xét nhiều vấn đề về tổ chức lực lượng. Đặc biệt, trong buổi  Lễ trọng thể thành lập lực lượng ngày 28-03-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và huấn thị:
                            “ Đoàn kết, cảnh giác;
                               Liêm chính, kiệm cần;
                               Hoàn thành nhiệm vụ;
                               Khắc phục khó khăn;
                               Dũng cảm trước địch;
                               Vì nước quên thân;
                               Trung thành với Đảng;
                               Tận tuỵ với dân”.
Ngày 02-03-1962, tại Đại hội Liên hoan chiến sĩ thi đua lần thứ nhất của lực lượng được tổ chức tại Hà Nội. Bác Hồ đã đến dự biểu dương khen ngợi thành tích của cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang và nhấn mạnh:    
                               “Non xanh nước biếc trùng trùng;
                                Giữ gìn Tổ quốc ta không ngại ngùng gian lao;
                                Núi cao sự nghiệp càng cao;
                                Biển sâu chí khí ta soi vào càng sâu;
                                Thi đua ta quyết giật cờ đầu”.
Những lời dạy bảo ân cần, sâu nặng đầy nghĩa tình của Bác Hồ kính yêu đối với lực lượng luôn là mục tiêu lý tưởng phấn đấu của lớp lớp cán bộ, chiến sỹ trong gần nửa thế kỷ qua. Sự quan tâm, khích lệ động viên của Bác Hồ kính yêu là nguồn cổ vũ hết sức to lớn đối với toàn lực lượng, chắp cánh cho cán bộ, chiến sỹ vượt qua mọi thử thách hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Lực lượng Công an nhân dân vũ trang ra đời trong bối cảnh tình hình đất nước và trên các tuyến biên giới diễn biến hết sức phức tạp. Ở biên giới Việt- Trung, bọn phản cách mạng, bọn đặc vụ Tưởng tăng cường hoạt động xây dựng căn cứ, móc nối với bọn phản động trong nước thành lập các tổ chức, tập hợp lực lượng gây phỉ, gây bạo loạn, chống phá cách mạng. Ở biên giới Việt- Lào, bọn Mỹ- ngụy tăng cường hoạt động phá hoại miền Bắc bằng nhiều hình thức, liên kết với bọn phản động trong phái hữu Lào thực hiện mưu đồ đánh vào cạnh sườn phía Tây của Việt Nam; chúng đẩy mạnh các hoạt động gây  bạo loạn vũ trang, tổ chức lôi kéo người Mông theo “châu phà”, xưng đón vua, nổi loạn cướp của giết người, đốt làng bản… gây tình trạng căng thẳng dọc biên giới. Ở khu vực giới tuyến và trên vùng biển, Mỹ-ngụy thường xuyên tung các toán gián điệp, biệt kích ra miền Bắc điều tra thu thập tình hình, móc nối, cài cắm, xây dựng cơ sở ngầm và cấu kết với bọn phản động lợi dụng tôn giáo, tổ chức phản động trong đồng bào dân tộc hoạt động phá hoại làm suy yếu hậu phương lớn miền Bắc; thực hiện chia cắt lâu dài đất nước ta. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển, giới tuyến quân sự tạm thời và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa của lực lượng Công an nhân dân vũ trang hết sức nặng nề, khó khăn.
Trước tình hình trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang đã khoác ba lô rời đồng bằng, thành phố ngược lên vùng cao biên giới, tiến ra biển- đảo dựng đồn, lập trạm, thường xuyên bám sát địa bàn, bám sát nhân dân cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, kiên trì bền bỉ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn nhân dân sản xuất, xây dựng quê hương biên giới giàu đẹp. Nhiều tập thể và cá nhân đã đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, lăn lộn quên mình vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân các dân tộc ở biên giới, vùng sâu, vùng xa, như anh hùng liệt sỹ Trần Văn Thọ- người chiến sĩ biên phòng tiêu biểu cho truyền thống “Trung với Đảng, tận tuỵ với dân”, hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân, luôn sống mãi cùng với đồng bào các dân tộc nói chung và dân tộc Hà Nhì nói riêng. Đáp lại sự mến mộ của các chiến sỹ biên phòng, nhân dân các dân tộc ở biên giới luôn giúp đỡ Công an nhân dân vũ trang tiễu phỉ, dẹp bạo loạn bảo vệ cuộc sống thanh bình của nhân dân, như ở  Đồng Văn (Hà Giang), Kỳ Sơn (Nghệ An), Phong Thổ (Lai Châu), Y Tý- Bát Xát (Lào Cai), Thanh Y- Đầm Hà (Hải Ninh), Pù Nhi (Thanh Hoá)… thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 186/CT-TN (17-02-1960) của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngăn chặn và dập tắt âm mưu và thủ đoạn hoạt động gây phỉ và gây bạo loạn vũ trang của bọn phản động. Từ năm 1959-1964, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã chiến đấu tiêu diệt 115 tên, bắt sống hơn một trăm tên, vận động ra hàng gần năm nghìn tên, phá vỡ nhiều cơ sở của địch, đập tan âm mưu xây dựng “khu vực an toàn và tiếp đón” bọn phản động của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra hoạt động phá hoại hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Trên mặt trận đấu tranh chống gián điệp biệt kích của Mỹ- nguỵ bảo vệ an ninh miền Bắc từ năm 1959-1964, với phương châm “giữ dưới đất là chính, giữ bên trong là chính; làm trong sạch địa bàn, chuẩn bị sẵn lực lượng, thế trận; địch vào là đánh, bắt gọn để tiếp tục mở rộng chuyên án” và “dùng địch để đánh địch”, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã mở nhiều chuyên án đánh địch đạt kết quả cao như các chuyên án K33, K34, K26, K32, K35... chủ động đón bắt nhiều toán gián điệp biệt kích cùng với số lượng lớn hàng tiếp tế của địch thả dù xuống. Từ năm 1961-1964, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã bắt 59 toán với hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí, phương tiện và trang bị; tiêu biểu là Công an nhân dân vũ trang các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…
Năm 1965, trước yêu cầu tăng cường bảo vệ an ninh trật tự và phòng thủ miền Bắc, làm thất bại âm mưu leo thang chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn tay sai đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngày 28.4.1965 Bộ Chính trị Trung ương Đảng (Khoá III) đã ra Nghị quyết số 116/NQ-TW về phân công nhiệm vụ giữa Quân đội nhân dân và lực lượng Công an nhân dân vũ trang trong việc bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Bắc và điều chỉnh một phần tổ chức của lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã tập trung lãnh đạo toàn lực lượng quán triệt và thực hiện nghiêm túc, khẩn trương Nghị quyết 116, đồng thời chỉ đạo các đơn vị đổi mới phương thức hoạt động đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động gián điệp, biệt kích của Mỹ- nguỵ, với phương thức tác chiến kết hợp chặt chẽ đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ an ninh, tuyên truyền vận động nhân dân tố giác, phát hiện và chiến đấu đánh địch bằng phân đội nhỏ, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã phát hiện và vô hiệu hoá các hoạt động tình báo thời chiến của địch như: điều tra tình hình, bắt cóc cán bộ, bộ đội, xây dựng cài cắm cơ sở ngầm, phục kích sát hại ta trên các trục đường cơ động, đặt mìn phá hoại cầu cống, biệt kích xâm nhập bằng máy bay lên thẳng, tàu thuyền để tập kích phá hoại các công trình quốc phòng, mục tiêu quan trọng nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam.
Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang đã mưu trí, dũng cảm chiến đấu  tiêu diệt 57 toán gián điệp, biệt kích, thám báo; bắt sống 133 tên; diệt 137 tên; phát hiện và xử lý hàng trăm đối tượng hoạt động gián điệp, tình báo, nhiều tổ chức phản động lợi dụng tôn giáo, giải tán hàng trăm hội đoàn phản động; tiến hành sưu tra, xác minh gần 32.000 đối tượng, 8.630 vụ việc nghi vấn; tập trung cải tạo 1600 đối tượng; di chuyển hàng nghìn đối tượng ra khỏi khu vực biên giới để làm trong sạch địa bàn; đưa vào diện tập trung cải tạo 9.311 tên; cải tạo tại chỗ 6.701 đối tượng, phát hiện hàng trăm người bị địch bắt cóc thả về sau khi đã kết nạp họ vào tổ chức phản động “Mặt trận Gươm thiêng ái quốc”…
Trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, địch đã tập trung ném bom bắn phá miền Bắc, nhất là các tuyến biên giới ven biển rất ác liệt. Từ năm1965 - 1972, địch đã ném bom hơn 1.250 lần vào các đồn, trạm biên phòng. Nhiều đồn trạm bị chúng đánh đi đánh lại nhiều lần và dùng máy bay B52 đánh phá mang tính huỷ diệt, như các đồn biên phòng Cha Lo, Cù Bai, Nước Sốt, Ròn, Cửa Hội… Với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, các đơn vị đã tích cực chủ động hiệp đồng, phối hợp với các lực lượng chiến đấu tại chỗ, vừa chiến đấu đánh trả máy bay địch, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu trọng yếu được giao với quân số, vũ khí, trang bị có hạn, song do có sự chuẩn bị tốt về chính trị, tư tưởng, tổ chức phát huy tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, vận dụng cách đánh mưu trí, sáng tạo, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã độc lập chiến đấu, lập công xuất sắc bắn rơi 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các lực lượng vũ trang bắn hạ 225 chiếc khác, bắn bị thương 128 chiếc, bắt sống nhiều giặc lái, trụ vững trên địa bàn ác liệt. Nhiều đơn vị đánh giỏi, thắng lớn như  Công an nhân dân vũ trang Quảng Bình bắn rơi 43 chiếc; Đặc khu Vĩnh Linh bắn rơi 29 chiếc, Nghệ An bắn rơi 22 chiếc… Đặc biệt, Đồn Ròn (Quảng Bình) là đơn vị đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực bằng súng bộ binh trong trận đầu tiên ngày 05-08-1964, Đồn Cha Lo (Quảng Bình) với tổ bắn máy bay bố trí trên núi cao đã bắn rơi 2 máy bay địch. Chiến công bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ bằng súng bộ binh đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến của quân đội ta và tô đậm thêm truyền thống “Dũng cảm trước địch, vì nước quên thân” của Công an nhân dân vũ trang nay là Bộ đội biên phòng. Thật kiêu hãnh và xúc động trước hình ảnh người chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang làm nhiệm vụ ở cảng  khi máy bay Mỹ đánh phá Cảng Hòn Gai, thuyền trưởng tàu các nước tư bản sợ máy bay Mỹ bắn vào tàu của họ đã đề nghị ta cho hạ cờ Việt Nam để kéo cờ Mỹ lên; với ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền của đất nước, bảo vệ sự quyền uy của Nhà nước Việt Nam, các chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đã kiên quyết từ chối, trả lời thẳng với thuyền trưởng: “Đây là nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không ai được phép kéo cờ Mỹ lên! Các ông hãy đi ẩn nấp, chúng tôi sẽ tiêu diệt máy bay Mỹ để  bảo vệ cảng”. Sau sự kiện đó, tất cả các thuỷ thủ, thuyền viên của các nước đều bày tỏ lòng khâm phục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng quả cảm, ý chí sắt đá tuyệt vời của nhân dân Việt Nam nói chung và các chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang nói riêng.
Trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, thấm nhuần quan điểm “không để mất một tấc đất của Tổ quốc, không để lọt một phần tử nguy hiểm”, các đồn biên phòng đã không quản ngại khó khăn, vất vả thường xuyên tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới. Trong mười năm từ 1965-1975, các đơn vị đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho hàng triệu lượt người và phương tiện với gần mười triệu tấn hàng hoá ra vào biên giới, giới tuyến, cảng biển; đăng ký quản lý trên năm nghìn tàu thuyền đánh cá với hàng vạn thuỷ thủ, thuyền viên; bắt gần 700 vụ buôn lậu; phát hiện gần 900 người nghi vấn hoạt động tình báo; ngăn chặn 30 vụ người theo đạo Thiên Chúa ở vùng biển bị địch lừa bịp vượt tuyến vào Nam và đi nước ngoài; điều tra cơ bản 442/444 xã biên phòng của miền Bắc; xây dựng được màng lưới nắm tình hình rộng khắp, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch.
Với khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không rời”, các chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang đã không quản gian khổ hy sinh, vượt qua thử thách khắc nghiệt của “ruồi vàng, bọ chó, gió Lào”, đồng cam cộng khổ thực hiện bốn cùng với nhân dân “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc”, vào tận rừng sâu, hang đá nơi nhân dân sơ tán để giúp dân sản xuất; nhường cơm xẻ áo cho dân trong những lúc khó khăn hoạn nạn do giặc Mỹ gây ra. Các đồn biên phòng làm tham mưu và cùng với chính quyền và các đoàn thể ở địa phương tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng xã vững mạnh về chính trị và trật tự trị an; tổ chức bảo vệ ngư dân đánh cá trên biển và ngăn chặn các đối tượng xấu lợi dụng vượt biên, vượt biển. Biết bao cán bộ, chiến sỹ đã không ngại hy sinh vượt qua lửa đạn để cứu người bị thương, bị sập hầm, dập tắt lửa không để bị cháy hàng nghìn ngôi nhà của nhân dân, hàng vạn tấn lương thực, hàng hóa của Nhà nước. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, trong những lúc khó khăn hiểm nghèo,  bằng hành động gương mẫu và tinh thần dũng cảm của mình, thậm chí cả bằng xương máu để bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân. Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang đã nêu tấm gương sáng chói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống tốt đẹp của lực lượng. Biết bao tấm gương tiêu biểu chiến đấu hy sinh vì nhân dân như Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ, Anh hùng Hồ Phòm… mãi mãi để lại hình ảnh đẹp đẽ trong đồng bào các dân tộc và làm cho sự gắn kết tình cảm quân dân càng thêm bền chặt.  
Trong thực hiện nhiệm vụ vũ trang trực tiếp bảo vệ các lãnh tụ, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa: cán bộ, chiến sỹ  Trung đoàn 600 và Trung đoàn 254 đã phát huy tốt vai trò của “chiến sỹ cận vệ”, luôn mài sắc tinh thần cảnh giác, không quản khó khăn, ngày đêm bảo vệ tuyệt đối an toàn Bác Hồ kính yêu, các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước,  các cơ quan đầu não của Đảng, cơ quan ngoại giao, các đoàn khách quốc tế; các sân bay, bến cảng, đài phát thanh và các cơ quan trọng yếu khác ở tại chỗ cũng như nơi sơ tán, lúc đi công tác.
Trong 12 ngày đêm máy bay Mỹ đánh phá ác liệt ở Hà Nội cuối năm 1972, cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 254 vừa tham gia bắn máy bay tầm thấp, vừa bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, như Đại đội 42 bảo vệ Đài Phát thanh Mễ Trì, nhiều lần địch dùng B52 ném bom rải thảm xuống khu vực, nhưng vẫn kiên cường bám trụ bảo vệ mục tiêu. Các đơn vị của Trung đoàn 600 trong chiến tranh phá hoại đã đào hàng nghìn mét giao thông hào, hầm phòng tránh, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, các cuộc họp của Trung ương. Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã lập chiến công và thành tích xuất sắc được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo biểu dương khen ngợi.
Các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời đã vượt qua mọi hiểm nguy, kiên trì bám dân, bám đất, chiến đấu bảo vệ bờ Bắc, giương cao lá cờ của Tổ quốc phất phới tung bay, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân bờ Nam đấu tranh chống âm mưu của Mỹ- ngụy chia cắt lâu dài đất nước. Cán bộ, chiến sỹ vừa làm nòng cốt cho nhân dân đấu tranh đòi Mỹ- ngụy phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ; vừa chiến đấu đánh diệt lực lượng thám báo của địch, như  “ Biệt đội sưu tầm nguỵ”, màng lưới tình báo “Bắc Đẩu 11”, “Bắc Đẩu 12”..., diệt hàng trăm tên biệt kích, tề nguỵ ác ôn, góp phần củng cố cơ sở phía Nam vĩ tuyến, ngăn chặn hoạt động của địch ra miền Bắc… Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt, chiến đấu dũng cảm như Hồ Sĩ Chất, Trương Xà, Đào Xuân Phương, Phan Minh Đức...
Trên chiến trường miền Nam, mặc dù chiến đấu trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan ác liệt, lực lượng An ninh vũ trang giải phóng vẫn giữ vững tấm lòng sắt son, kiên trung với cách mạng. Thực hiện phương châm “một tấc không đi, một li không rời”, kiên trì bền bỉ bám đất, bám dân, trụ vững hoạt động trong vùng địch, xây dựng cơ sở, diệt ác trừ gian cùng nhân dân chiến đấu lập công xuất sắc. Nhiều phân đội trinh sát An ninh vũ trang mưu trí, táo bạo, “xuất quỷ nhập thần” ngay giữa sào huyệt của địch, tiến công tiêu diệt bọn ác ôn đầu sỏ, bọn thám báo biệt kích, làm cho địch kinh hồn, khiếp vía.
Được nhân dân thương yêu đùm bọc, giúp đỡ chở che, cán bộ, chiến sỹ An ninh vũ trang vừa vận động tổ chức nhân dân đấu tranh, vừa tiến hành công tác binh địch vận, phá vỡ nhiều tổ chức tình báo, mật vụ cài cắm ở thôn ấp, hỗ trợ đắc lực cho các cuộc nổi dậy của quần chúng phá ách kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng.
Với lòng trung thành vô hạn, các đơn vị An ninh vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang tại chỗ kịp thời đánh trả, ngăn chặn nhiều trận tập kích của địch, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và các cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam.
Hướng về miền Nam thân yêu và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, từ năm 1964-1974, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã tổ chức chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trên 5.000 cán bộ, chiến sỹ. Được sự chi viện của Công an nhân dân vũ trang ở miền Bắc, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam ngày càng lớn mạnh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng An ninh vũ trang đã lập nhiều chiến công, góp phần quan trọng giành thắng lợi trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Những thành tích xuất sắc của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã tô thắm thêm truyền thống vinh quang của lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu đã được Đảng, Nhà nước khen ngợi, nhân dân tin yêu, mến phục, như lực lượng An ninh vũ trang Sài Gòn- Gia Định, Sóc Trăng, Phú Yên, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Trung đoàn 180..., các Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Kim Vang, Trần Phong, Lê Hồng Nhị, Nguyễn Văn Bang và nhiều cán bộ, chiến sỹ ưu tú khác.  
Thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, với tư tưởng “giúp bạn là tự giúp mình”. Trong những năm 1965- 1975, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã tổ chức nhiều đơn vị với hàng trăm cán bộ, chiến sỹ thường xuyên sát cánh với các đơn vị vũ trang của cách mạng Lào bảo vệ an toàn vùng giải phóng. Tích cực giúp bạn xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ trị an, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân các vùng biên giới của bạn. Các đơn vị đã tổ chức 96 tổ trinh sát gồm 215 trinh sát viên, 130 đội công tác sơ sở với 830 lượt cán bộ, chiến sĩ thường xuyên hoạt động trên đất bạn. Bằng biện pháp nghiệp vụ, phối hợp cùng bạn phát hiện hàng chục tổ chức nhen nhóm phản động, hàng chục đường dây gián điệp biệt kích xâm nhập qua biên giới, tiến hành 1.614 cuộc lùng sục truy quét địch, đánh 92 trận, tiêu diệt và bắt 407 tên, gọi hàng 530 tên, thu nhiều vũ khí. Nhiều tập thể và cá nhân lập công xuất sắc được Bạn đánh giá cao, như:  Phân đội 56- đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang Nghệ An, Tiểu đoàn 12... và các Anh hùng Võ Hồng Tuyên, Trần Văn Trí, Nguyễn Đình Thử...
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang ở miền Bắc cũng như ở chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế đã luôn dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, sắc bén, linh hoạt, sáng tạo trong công tác, gắn bó máu thịt với nhân dân, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; 73 đơn vị và 33 cá nhân đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Sau năm 1975, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã nhanh chóng triển khai tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới, bờ biển trong toàn quốc với chiều dài gần 8000km; triển khai 143 đồn, 23 trạm biên phòng với hơn 6.000 cán bộ, chiến sỹ ở các tỉnh thành miền Nam. Các đơn vị đã phát hiện hơn 1.400 vụ xâm nhập vào biên giới, bắt giữ 550 vụ, trong đó có 9 toán gián điệp biệt kích do CIA tổ chức xâm nhập qua biên giới các tỉnh phía Nam và gần 300 tên phản động lưu vong xâm nhập qua biên giới các tỉnh phía Bắc; phát hiện gần 2.000 đối tượng địch cài cắm, móc nối, xây dựng cơ sở ngầm, triệt phá 70 vụ nhen nhóm tổ chức phản động lợi dụng dân tộc, tôn giáo hoạt động chống phá cách mạng; phát hiện 31.687 lần chiếc tàu thuyền nước ngoài xâm nhập vùng biển khai thác hải sản trái phép và hoạt động thu thập tin tức tình báo; bắt xử lý trên 5.000 vụ buôn lậu và tội phạm hình sự, trong đó có 7 vụ buôn lậu lớn; tổ chức trên 2.100 cuộc truy quét bọn tàn quân FULRO; diệt gần 450 tên, bắt hơn 300 tên, gọi hàng 300 tên; bắt hơn 1.000 tên ngụy quân, ngụy quyền trốn trình diện; bắt 2.575 vụ trốn ra nước ngoài.
Trong hai cuộc chiến tranh biên giới, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, 27 tập thể, 21 cá nhân và toàn lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Tiêu biểu cho sự hy sinh quên mình bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, nêu tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng như: Đồn Biên phòng Ya Kla, Bu Brăng, Xa Mát, Phước Tân, Phú Mỹ, Cầu Ván, Long Khốt, Phân đội Long Bình, Đồn Pò Hèn, Đại đội 6 (Quảng Ninh), Sì Lờ Lầu, Ma Lù Thàng, Lũng Làn, Bạch Đích, Trà Lĩnh, Sóc Giang, Tà Lùng, Hữu Nghị quan, Pò Mã, Pha Long, Đại đội 5 (Lào Cai)…
Sau năm 1978, tình hình trên các tuyến biên giới nước ta diễn biến phức tạp, để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 10-10-1979 Bộ Chính trị (Khoá IV) ra Nghị quyết 22/NQ-TW, ngày 19-11-1979 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 412/CP về phân công lại nhiệm vụ, đổi tên lực lượng Công an nhân dân vũ trang thành Bộ đội biên phòng và chuyển từ Bộ Nội vụ (Bộ Công an) sang Bộ Quốc phòng; ngày 19-11-1979 Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1148/QP quy định nhiệm vụ, hệ thống tổ chức của Bộ đội biên phòng. Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã tập trung chỉ đạo lực lượng Bộ đội biên phòng triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống âm mưu và hoạt động của địch trên từng tuyến biên giới, ven biển, hải đảo; nghiên cứu đề xuất đối sách và các biện pháp đấu tranh với từng loại đối tượng, nhất là biện pháp phòng, chống địch xâm nhập; phòng, chống địch móc nối, cài cắm cơ sở ngầm, nhen nhóm tổ chức phản động gây rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn; phòng, chống âm mưu “vãi thóc tráng men, bôi lem quần chúng” của địch, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng phòng tuyến an ninh nhân dân; chống chiến tranh lấn chiếm biên giới; tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 03/NQ-TW về kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch; Kế hoạch 10 về tấn công chính trị trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và một số địa bàn trọng điểm trên các tuyến biên giới khác.
Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia anh em. Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã thành lập 7 trung đoàn biên phòng làm nhiệm vụ chiến đấu giúp cách mạng Campuchia. Bộ đội biên phòng Việt Nam đã giúp Campuchia huấn luyện và triển khai tổ chức bảo vệ trên các tuyến biên giới của Campuchia. Cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ quốc tế cao cả đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, không quản ngại hy sinh, kề vai sát cánh cùng nhân dân Campuchia đánh bại bọn diệt chủng Pôn Pốt, bảo vệ thành quả cách mạng Campuchia. Tình đoàn kết, hữu nghị thuỷ chung trong sáng của người chiến sỹ biên phòng Việt Nam đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong lòng nhân dân Campuchia, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với Campuchia và các nước trong khu vực.
Trong những năm 1987- 1995, tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi, tình hình an ninh biên giới diễn biến hết sức phức tạp. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 30-11-1987 Bộ Chính trị (Khoá VI) ra Nghị quyết 07/NQ-TW, ngày 21-6-1988 Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 104/QĐ-HĐBT chuyển lực lượng Bộ đội biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ (Bộ Công an). Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, Nhà nước, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước; thực hiện 10 đối sách biên phòng nhằm ngăn chặn xung đột, giảm đối đầu, giảm các hoạt động vũ trang; tăng cường hoạt động phòng chống các hoạt động gián điệp, tình báo, chiến tranh tâm lý, triệt phá các tổ chức phản động; giải quyết tốt các vụ xâm canh, xâm cư lấn chiếm biên giới và chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch; nghiên cứu đổi mới công tác kiểm soát xuất-nhập cảnh tại các cửa khẩu biên giới, phục vụ chính sách mở cửa, mở rộng giao lưu hợp tác với các nước trên thế giới. Bộ Tư lệnh đã thành lập các hải đoàn, hải đội, tăng thêm đồn, trạm biên phòng ở ven biển, hải đảo; tăng cường bảo vệ chủ quyền an ninh trên các vùng biển của đất nước. Bộ Tư lệnh đã tập trung chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác biên phòng, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị; giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia; phát hiện, bắt diệt các toán phản động lưu vong xâm nhập như: bọn Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh, Hoàng Cơ Minh, Trần Văn Đô…
Trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ biên giới, thấm nhuần quan điểm “Biên phòng toàn dân” của Đảng, Nhà nước, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh làm tham mưu và kiến nghị với Chính phủ ban hành Quyết định số 16/QĐ-HĐBT về tổ chức Ngày Biên phòng hàng năm, bắt đầu từ ngày 3-3-1989 nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, động viên giáo dục nhân dân và các tầng lớp xã hội hướng về biên giới, giúp đỡ nhân dân biên giới xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Trước tình hình diễn biến phức tạp ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; để chủ động phòng ngừa ngăn chặn các hoạt động “Diễn biến hoà bình”- gây bạo loạn lật đổ của địch, đáp ứng  yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, ngày 8-8-1995 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VII) đã ra Nghị quyết số 11/NQ-TW về xây dựng Bộ đội biên phòng trong tình hình mới; ngày 16-11-1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 754/TTg chuyển lực lượng Bộ đội biên phòng từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng. Thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và để tăng cường chức năng quản lý nhà nước về biên giới quốc gia, Nhà nước đã  ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Luật Biên giới quốc gia, Pháp lệnh  Bộ đội biên phòng, Nghị định 02/1998/NĐ-CP, Nghị định 34/2000/NĐ/-CP, Nghị định 161/2003/NĐ-CP. Đồng thời, tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp ước, hiệp định về biên giới với các nước, tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.
Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn lực lượng tổ chức quán triệt sâu sắc Nghị quyết 11 và các văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các đơn vị Bộ đội biên phòng đã không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, nghiệp vụ, pháp luật, đổi mới các biện pháp công tác, phối hợp với các ngành, các lực lượng chức năng và địa phương xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự ở biên giới. Từ năm 2001 đến nay, Bộ đội biên phòng đã phát hiện, đấu tranh ngăn chặn hàng trăm vụ xâm nhập, vượt biên; 327 vụ mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; 362 vụ buôn lậu, hơn 1.000 vụ mua bán vận chuyển ma tuý qua biên giới. Trong cuộc đấu tranh gay go quyết liệt với các loại tội phạm, nhiều cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng đã anh dũng hy sinh, như: các Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần, Phạm Văn Điền, Phạm Xuân Phong, Và Bá Giải…
Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh thường xuyên chỉ đạo các đơn vị tích cực chủ động làm tham mưu và cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội, xoá đói giảm nghèo, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” thật sự vững chắc. Các đồn biên phòng đã cử 438 sỹ quan tăng cường cho hơn 400 xã biên giới đặc biệt khó khăn; tham mưu cho địa phương kiện toàn hàng nghìn tổ chức cơ sở đảng, uỷ ban nhân dân, tổ chức mặt trận, công an, dân quân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ và hội cựu chiến binh. Triển khai thực hiện 124 dự án kinh tế- xã hội với tổng số vốn gần 800 tỷ đồng; tổ chức định canh, định cư bền vững cho hàng ngàn hộ dân, hướng dẫn nhân dân làm ruộng nước, đổi mới cây trồng, chăn nuôi tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở biên giới.
Thực hiện chương trình đưa văn hoá lên vùng cao, biên giới, hải đảo, các đồn biên phòng đã cử hơn 2.000 chiến sỹ làm nhiệm vụ tuyên truyền văn hoá, xoá mù chữ ở các xã, bản biên giới; thành lập hơn 400 tổ, đội tuyên truyền văn hoá, tuyên truyền vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Từ năm 1989 đến nay, các đơn vị đã tổ chức được 3.664 lớp học, xoá hơn 200 thôn bản trắng về giáo dục, góp hàng ngàn ngày công xây dựng trường lớp, hàng tỉ đồng mua tặng bàn ghế, đồ dùng học tập cho các nhà trường và các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Hình ảnh “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Thày thuốc quân hàm xanh”, “Chiến sĩ tuyên truyền văn hoá quân hàm xanh”… đã thực sự chiếm được tình cảm, sự tin yêu và quý mến của nhân dân các dân tộc, tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới.
Tiêu biểu cho thời kỳ đổi mới là các tập thể và cá nhân được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như: Đồn Bạch Đích, Sầm Sơn, Nậm Cắn, Đồn 551 (Nghệ An); Đồn An Thới, Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh, Đồn Trại Trụ, Bình Châu, Hải đội 2- Hải Phòng, Hải đội 2- Quảng Ninh, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Hòn Gai, Tiểu đoàn 1- Trung đoàn 21 Thông tin; Phòng Cơ yếu- Bộ Tham mưu, Đồn Làng Mô, Hoành Mô, Pò Hèn, Quang Chiểu, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Nghi Sơn, Cục Trinh sát Biên phòng, Đoàn Nghệ thuật Bộ đội biên phòng…; Đại tá Lê Minh Cơ- Chỉ huy trưởng BĐBP Sóc Trăng, liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần, liệt sĩ Lê Xuân Phong, liệt sĩ Và Bá Giải, liệt sĩ Phạm Văn Điền; Đại tá Võ Trọng Việt- Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh, nay là Trung tướng- Chính uỷ Bộ đội biên phòng...
Trải qua gần nửa thế kỷ chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Bộ đội biên phòng đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước đánh giá cao. Những chiến công, thành tích xuất sắc của Bộ đội biên phòng đã góp phần giữ ổn định lâu dài biên giới quốc gia, phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang hào hùng của dân tộc và của các lực lượng vũ trang nhân dân. Toàn lực lượng Bộ đội biên phòng rất vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Quân công hạng Nhất, 1 Huân chương Quân công hạng Ba, 135 đơn vị, 62 cá nhân được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 5 tập thể được tuyên dương Anh hùng lần thứ hai, 32 tập thể và 10 cá nhân được tuyên dương Anh hùng trong thời kỳ đổi mới; 7313 lượt đơn vị, cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công và Huân chương Lao động; hàng vạn lượt đơn vị và cá nhân được tặng cờ, bằng khen của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an... Những phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước trao tặng là nguồn động viên hết sức to lớn đối với Bộ đội biên phòng, chắp cánh cho cán bộ, chiến sỹ không ngừng phấn đấu vươn lên lập nhiều thành tích trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc.
Bộ đội biên phòng phát triển lớn mạnh như ngày nay chính là do có sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng, của Bác Hồ kính yêu; sự giúp đỡ to lớn của các bộ, ban ngành ở Trung ương, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương, sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, các đồng chí thương binh cùng với lớp lớp cán bộ, chiến sỹ qua các thế hệ đã hết lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, kiên trì bám trụ bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.
Phẩm chất cách mạng, sự mưu trí tài giỏi của Công an nhân dân vũ trang trước đây và Bộ đội biên phòng ngày nay đã được thể hiện hết sức sinh động trong Truyền thống vẻ vang của lực lượng với những nét đặc trưng nổi bật:
 1. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc
Bộ đội biên phòng là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng và Nhà nước, được Bác Hồ khai sinh, luôn phấn đấu cho mục tiêu cách mạng, lý tưởng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã vạch ra. Cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng thường xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng lực lượng, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng luôn quán triệt quan điểm tư tưởng chỉ đạo và các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng lực lượng vững mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, xây dựng nền tảng chính trị, tư tưởng vững chắc bảo đảm cho Bộ đội biên phòng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tình huống.
Suốt nửa thế kỷ qua, cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân, một lòng một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, kiên quyết chiến đấu làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng là bản chất truyền thống của lực lượng Công an nhân dân vũ trang trước đây và Bộ đội biên phòng ngày nay.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của lực lượng trong giai đoạn cách mạng mới cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng luôn kiên định vững vàng về chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng với toàn quân, toàn dân vượt qua mọi khó khăn gian khổ, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, góp phần đánh bại mọi âm mưu “Diễn biến hoà bình” của địch, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
2. Mưu trí, dũng cảm tấn công địch và các loại tội phạm, chủ động sáng tạo trong công tác, nhạy bén linh hoạt trong đấu tranh, quyết thắng mọi kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội biên phòng phải thường xuyên trực tiếp đấu tranh với nhiều loại đối tượng phức tạp, thủ đoạn hoạt động hết sức tinh vi, thâm độc và xảo quyệt, đòi hỏi cán bộ, chiến sỹ phải hết sức mưu trí, dũng cảm, kiên quyết tấn công địch và các loại tội phạm, chống lấn chiếm biên giới bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Trong chiến đấu, các đơn vị Bộ đội biên phòng luôn mưu trí, linh hoạt, sáng tạo vận dụng cách đánh phù hợp, chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh bại các cuộc tấn công của địch, giữ vững trận địa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong đấu tranh chống các hoạt động gây rối an ninh trật tự, gây bạo loạn lật đổ của địch và các loại đối tượng, cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng đã nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo, khôn khéo các chủ trương, đối sách; xử lý nhanh nhạy, kịp thời các tình huống xảy ra ở địa bàn, không để địch lợi dụng làm phương hại đến an ninh quốc gia.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng biển trong tình hình mới, cán bộ, chiến sỹ cần nhận rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối tượng; đề cao cảnh giác phát hiện và kiên quyết ngăn chặn không để địch thực hiện được âm mưu chống phá; nhanh nhạy trong xử lý, ứng phó với các tình huống và giành thắng lợi.
3. Đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tích cực làm tham mưu và cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương tuyên truyền vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào “toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ biên giới”
Đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân, tổ chức hướng dẫn nhân dân tự giác tham gia bảo vệ biên giới, vùng biển là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Bộ đội biên phòng. Thực hiện phương châm coi “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sỹ luôn kiên trì bám địa bàn, bám dân, gắn bó với đồng bào các dân tộc ở biên giới, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Các đồn biên phòng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, làm tham mưu và cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng củng cố hệ thống chính trị ở các xã, phường biên giới, ven biển, hải đảo; đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt. Hình ảnh đẹp đẽ của người chiến sỹ biên phòng trong chiến đấu để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân đã để lại trong lòng nhân dân các dân tộc ở biên giới ấn tượng đẹp đẽ, tình cảm yêu mến không bao giờ phai. Sự thương yêu đùm bọc chở che của nhân dân luôn là nguồn động lực mạnh mẽ, cổ vũ Bộ đội biên phòng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
4. Đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, khắc phục khó khăn, chịu đựng hy sinh gian khổ, thực hiện liêm, chính, kiệm, cần, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện
Trong thực hiện nhiệm vụ, Bộ đội biên phòng thường xuyên bị tác động bởi các tiêu cực của xã hội, hoạt động lôi kéo, mua chuộc, tha hoá của địch và các loại đối tượng. Trong điều kiện hoàn cảnh đó, cán bộ, chiến sỹ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, khắc phục khó khăn, thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính”, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đứng vững nơi biên cương địa đầu Tổ quốc.
Từ mọi miền quê của đất nước, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng đã kề vai sát cánh bên nhau, đậm tình thương yêu đồng chí, đồng đội, trên dưới một lòng, đồng tâm hiệp lực, phát huy sức mạnh tập thể vượt qua mọi thử thách. Trong điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, cán bộ, chiến sỹ đã nêu cao tinh thần “Không có việc gì khó; chỉ sợ lòng không bền; đào núi và lấp biển; quyết chí cũng làm nên”. Cấp uỷ, chỉ huy các đồn biên phòng luôn chú trọng lãnh đạo tổ chức đơn vị tăng gia sản xuất, trồng rau, chăn nuôi, đào ao thả cá cải thiện đời sống. Cán bộ, chiến sỹ luôn nêu cao ý thức tiết kiệm, bảo quản tốt vũ khí, trang bị, khí tài; thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, biến rừng sâu hoang vắng, ma thiêng nước độc thành trung tâm văn hoá, chỗ dựa của nhân dân theo mô hình “An ninh cộng đồng, lấy đồn biên phòng  làm nòng cốt”.
5. Giữ vững nguyên tắc xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
Biên giới nước ta có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại... Tuyến biên giới đất liền dài, tiếp giáp với ba nước Trung Quốc, Lào và Campuchia, tuyến bờ biển với vùng lãnh hải và thềm lục địa rộng lớn, tiếp giáp với vùng biển của nhiều nước trong khu vực. Đây là nơi có các cửa khẩu, hải cảng lớn, thuận lợi cho hoạt động xuất- nhập khẩu, xuất- nhập cảnh, giao lưu, hội nhập giữa nước ta với các nước trong khu vực và quốc tế.
Từ ngày đầu thành lập lực lượng cho đến nay cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Trong quan hệ biên giới, các đồn biên phòng luôn giữ đúng nguyên tắc kiên quyết đấu tranh với các hoạt động xâm phạm chủ quyền, vi phạm quy chế biên giới với phương pháp mềm dẻo, khôn khéo, thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị với các nước láng giềng, trân trọng giữ gìn tình đoàn kết trong sáng của nhân dân và lực lượng biên phòng của các nước láng giềng và bạn bè quốc tế. Trong quan hệ tiếp xúc đối ngoại luôn thể hiện thái độ, tác phong làm việc lịch sự văn minh, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế.
Nhìn lại chặng đường nửa thế kỷ đã đi qua mỗi cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng luôn tự hào với truyền thống vẻ vang của lực lượng, với những chiến công và thành tích trong chiến đấu, công tác và xây dựng lực lượng.
Trong giai đoạn cách mạng mới, nhận rõ vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của sự nghiệp quản lý, bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng nguyện ra sức phấn đấu, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, phát huy truyền thống vẻ vang của lực lượng, đạp bằng mọi khó khăn, vượt qua mọi thử thách, đoàn kết một lòng, xây dựng lực lượng vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho.

(Ban BT)

Bình luận

Security code
Hình khác

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Một số thành phố
Nguồn: Trung tâm KTTVTW

Hà Nội Trời chuyển lạnh (17-29 độ)
Huế Mây thay đổi, ngày đêm có mưa (25-33độ)
Đà Nẵng Nắng nắng có mưa nhỏ (24-36độ)
TPHCM Mây thay đổi, đêm có mưa dào (23-33độ)
GIÁ VÀNG
Cập nhật 08 giờ hàng ngày
Nguồn: Sacombank-SBJ
    Mua vào   Bán ra
SBJ
36,620 36,850
SJC
36,650 36,660